Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiệp vụ Văn thư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghiệp vụ Văn thư. Hiển thị tất cả bài đăng

In Nghiệp vụ Văn thư Sinh viên cần biết

Thông tư số 02/2010/TT-BNV

Hôm nay 25 tháng 7 năm 2010
Để thống nhất quản lý nhà nước về công tác văn thư, lưu trữ, ngày 28 tháng 4 năm 2010 Bộ nội vụ đã ban hành Thông tư số 02/2010/TT-BNV về hướng dẫn, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của tổ chức Văn thư, Lưu trữ Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp.
Theo đó, Thông tư quy định về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, biên chế của Tổ chức Văn thư, Lưu trữ tại Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và tại Ủy ban nhân dân các cấp. Đối với tổ chức Văn thư, Lưu trữ cấp tỉnh đã thành lập Phòng Quản lý Văn thư – Lưu trữ và Trung tâm Lưu trữ tỉnh thì theo Thông tư mới phải thành lập Chi cục Văn thư – Lưu trữ trực thuộc Sở Nội vụ trên cơ sở hợp nhất Phòng Quản lý Văn thư – Lưu trữ và Trung tâm Lưu trữ tỉnh.
Chi cục Văn thư – Lưu trữ có chức năng giúp Giám đốc Sở Nội vụ tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và trực tiếp quản lý tài liệu lưu trữ lịch sử của tỉnh theo quy định của Pháp luật.
Đối với tổ chức Văn thư – Lưu trữ cấp huyện Phòng Nội vụ bố trí công chức chuyên trách giúp Trưởng phòng Nội vụ thực hiện chức năng tham mưu cho Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về văn thư, lưu trữ của huyện.
Đối với Văn thư – Lưu trữ cấp xã: Tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn bố trí công chức kiêm nhiệm làm văn thư lưu trữ.
Thông tư có hiệu lực sau 45 ngày ban hành và bãi bỏ các quy định trước đây trái với Thông tư này.

Read More

Share Tweet Pin It +1

0 Comments

In Nghiệp vụ Văn thư Sinh viên cần biết

Nghị định số 09/2010/NĐ-CP

Hôm nay 25 tháng 7 năm 2010 thông tin nghiệp vụ cần biết
Ngày 08/02/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 09/2010/NĐ-CP về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư (sau đây gọi tắt là Nghị định 09).
Việc ra đời của Nghị định 09 lúc này là hoàn toàn phù hợp khi Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2008 đã có hiệu lực từ ngày 01/01/2009 (thay cho Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 16/12/2002). Theo Nghị định 09 thì Nghị định 110/2004/NĐ-CP ngày 08/4/2004 của Chính phủ về công tác văn thư (Nghị định 110) được sửa đổi, bổ sung một nội dung cụ thể như sau:
Thứ nhất, Nghị định làm rõ khái niệm bản gốc và bản chính của văn bản. Trong đó, “bản gốc của văn bản” là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản được cơ quan tổ chức ban hành và có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền”. Còn “bản chính văn bản” là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản và được cơ quan phát hành”. Căn cứ vào hai định nghĩa trên, bản gốc khác bản chính là: bản gốc có chữ ký trực tiếp, còn bản chính thì được cơ quan, tổ chức phát hành.
Thứ hai, trong phần quy định những văn bản thuộc loại văn bản hành chính, Nghị định bổ sung thêm Nghị quyết (cá biệt), thư công, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thỏa thuận.
Thứ ba, Nghị định bổ sung một số quy định về thể thức của công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thỏa thuận, thư công. Theo đó, công văn có thể bổ sung thêm địa chỉ Trang thông tin điện tử (website) và biểu tượng (logo) của cơ quan tổ chức. Còn đối với công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, thư công, bản thỏa thuận, giấy nghỉ phép, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu chuyển thì không nhất thiết phải có tất cả thành phần thể thức như quy định.
Thứ tư, Nghị định bổ sung thêm quy định về chuyển phát và đính chính văn bản. Theo đó, “văn bản đã phát hành nhưng có sai sót về nội dung phải được sửa đổi và được thay thế bằng văn bản có hình thức tương đương của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản. Văn bản đã phát hành nhưng có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày, thủ tục ban hành phải được đính chính bằng văn bản hành chính của cơ quan, tổ chức ban hành”. Như vậy, ở Nghị định 09, tầm quan trọng về tính chính xác về mặt nội dung và thể thức đã được quy định chặt chẽ, cụ thể hơn.
Thứ, năm, Nghị định quy định cụ thể thêm ở phần lưu văn bản đi. Cụ thể văn bản đi phải lưu hai bản: “bản gốc lưu tại Văn thư cơ quan, tổ chức, bản chính lưu trong hồ sơ”.
Bên cạnh những nội dung cơ bản trên, Nghị định còn quy định một số sửa đổi, bổ sung đối với Nghị định 110 ở nội dung về ký thay, ký thừa ủy quyền… Ngoài ra, Nghị định 09 quy định rõ, Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật; Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính.
Được biết, Nghị định 09 này sẽ có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2010

Read More

Share Tweet Pin It +1

0 Comments

In Nghiệp vụ Văn thư

Thông tin nghiệp vụ

Hôm nay 14 tháng 6 năm 2010 mời bạn đọc thông tin bổ sung về nghiệp vụ
Số: 09/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 02 năm 2010

NGHỊ ĐỊNH
Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP
ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư
________

CHÍNH PHỦ
Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 03 tháng 6 năm 2008;
Căn cứ Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 03 tháng 12 năm 2004;
Căn cứ Pháp lệnh Lưu trữ quốc gia năm 2001;
Xét đề nghị của Bộ trưởng Bộ Nội vụ,

NGHỊ ĐỊNH:
Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư như sau:
1. Sửa đổi khoản 2 và khoản 3 Điều 2 như sau:
“2. “Bản gốc văn bản” là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản được cơ quan, tổ chức ban hành và có chữ ký trực tiếp của người có thẩm quyền;
3. “Bản chính văn bản” là bản hoàn chỉnh về nội dung, thể thức văn bản và được cơ quan, tổ chức ban hành”.
2. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và khoản 2 Điều 4 như sau:
“1. Văn bản quy phạm pháp luật theo quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật và các văn bản quy định chi tiết biện pháp thi hành Luật này.
2. Văn bản hành chính
Nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thoả thuận, giấy chứng nhận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công”.
3. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 như sau:
“1. Thể thức văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính
a) Thể thức văn bản quy phạm pháp luật và văn bản hành chính bao gồm các thành phần sau:
- Quốc hiệu;
- Tên cơ quan, tổ chức ban hành văn bản;
- Số, ký hiệu của văn bản;
- Địa danh và ngày, tháng, năm ban hành văn bản;
- Tên loại và trích yếu nội dung của văn bản;
- Nội dung văn bản;
- Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền;
- Dấu của cơ quan, tổ chức;
- Nơi nhận;
- Dấu chỉ mức độ khẩn, mật (đối với những văn bản loại khẩn, mật).
b) Đối với công văn, ngoài các thành phần được quy định tại điểm a của khoản này, có thể bổ sung địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thư điện tử (E-mail); số điện thoại, số Telex, số Fax; địa chỉ Trang thông tin điện tử (Website) và biểu tượng (logo) của cơ quan, tổ chức.
c) Đối với công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thoả thuận, giấy chứng nhận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công không bắt buộc phải có tất cả các thành phần thể thức trên và có thể bổ sung địa chỉ cơ quan, tổ chức; địa chỉ thư điện tử (E-mail); số điện thoại, số Telex, số Fax; địa chỉ Trang thông tin điện tử (Website) và biểu tượng (logo) của cơ quan, tổ chức.
d) Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản quy phạm pháp luật; Bộ Nội vụ hướng dẫn thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản hành chính”.
4. Sửa đổi khoản 1 Điều 6 như sau:
“1. Việc xây dựng văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định của pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật”.
5. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:
“Điều 9. Kiểm tra văn bản trước khi ký ban hành
1. Thủ trưởng đơn vị hoặc cá nhân chủ trì soạn thảo văn bản phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về nội dung văn bản trước người đứng đầu cơ quan, tổ chức và trước pháp luật.
2. Chánh Văn phòng; Trưởng Phòng Hành chính ở những cơ quan, tổ chức không có Văn phòng; người được giao trách nhiệm giúp người đứng đầu cơ quan, tổ chức quản lý công tác văn thư ở những cơ quan, tổ chức khác phải kiểm tra và chịu trách nhiệm về thể thức, kỹ thuật trình bày và thủ tục ban hành văn bản trước người đứng đầu cơ quan, tổ chức và trước pháp luật”.
6. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 và 3 Điều 10 như sau:
“1. Ở cơ quan, tổ chức làm việc theo chế độ thủ trưởng, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ký tất cả văn bản của cơ quan, tổ chức. Người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể giao cho cấp phó của mình ký thay (KT.) các văn bản thuộc các lĩnh vực được phân công phụ trách và một số văn bản thuộc thẩm quyền của người đứng đầu. Cấp phó ký thay chịu trách nhiệm trước người đứng đầu cơ quan, tổ chức và trước pháp luật.”.
“3. Ký thừa uỷ quyền
Trong trường hợp đặc biệt, người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thể uỷ quyền cho người đứng đầu một đơn vị trong cơ quan, tổ chức ký thừa uỷ quyền (TUQ.) một số văn bản mà mình phải ký. Việc giao ký thừa uỷ quyền phải được quy định bằng văn bản và giới hạn trong một thời gian nhất định. Người được ký thừa uỷ quyền không được uỷ quyền lại cho người khác ký. Văn bản ký thừa uỷ quyền theo thể thức và đóng dấu của cơ quan, tổ chức uỷ quyền”.
7. Sửa đổi, bổ sung Điều 18 như sau:
“Điều 18. Chuyển phát và đính chính văn bản đi
3. Văn bản đã phát hành nhưng có sai sót về nội dung phải được sửa đổi, thay thế bằng văn bản có hình thức tương đương của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản.
Văn bản đã phát hành nhưng có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày, thủ tục ban hành phải được đính chính bằng văn bản hành chính của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản”.
8. Sửa đổi Điều 19 như sau:
“1. Mỗi văn bản đi phải lưu hai bản: bản gốc lưu tại Văn thư cơ quan, tổ chức và bản chính lưu trong hồ sơ.
2. Bản gốc lưu tại Văn thư cơ quan, tổ chức phải được đóng dấu và sắp xếp theo thứ tự đăng ký”.
Điều 2. Hiệu lực thi hành
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2010.
2. Bãi bỏ phần căn cứ; khoản 2, 3 Điều 2; khoản 1, 2 Điều 4; khoản 1 Điều 5; khoản 1 Điều 6; khoản 1, 2 Điều 9; khoản 1, 3 Điều 10; tên Điều 18; khoản 1, 2 Điều 19; Điều 34 của Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về công tác văn thư.
Điều 3. Hướng dẫn thi hành
1. Bộ trưởng Bộ Nội vụ có trách nhiệm hướng dẫn thực hiện, kiểm tra việc thi hành Nghị định này.
2. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

Read More

Share Tweet Pin It +1

0 Comments

Được tạo bởi Blogger.

Danh mục

Ads 468x60px

Party Photography

Female Photography

Tổng số lượt xem trang

Lưu trữ Blog

Find Us On Facebook

Latest Posts

International

Featured Video

Pages

Vertical2

Sample Text

Search


.

.

.

.

.

Banner4

Banner4

Càng biết nhiều càng khổ.

Càng biết nhiều càng khổ.
Một câu niệm Phật, tiêu vạn tội. Hai chữ Từ bi, giải vạn sầu....

Business

Nhãn

Translate

Advertisement

Fun & Fashion

Social Media

Join with us

Popular Posts

POPULAR POSTS